Năm 1954, trên đại ngàn Tây Bắc đất nước, quân
và dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã vượt qua mọi khó khăn thử thách, đập tan tập đoàn cứ điểm Điện
Biên Phủ mạnh nhất Đông Dương của thực dân Pháp và can thiệp của đế quốc
Mỹ, dựng lên mốc son chói lọi trong dòng chảy lịch sử dân tộc, đồng
thời làm “chấn động địa cầu”, tác động mạnh đến phong trào đấu tranh vì
hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
Các chiến sỹ xung kích tấn công địch trên khu đồi C thuộc cụm cao
điểm phía Đông của Tập đoàn cứ điểm, trong đợt 2 của chiến dịch Điện
Biên Phủ (từ 30/3-30/4/1954). (Ảnh: Tư liệu/TTXVN).
Trận quyết chiến chiến lược
Đến
năm 1953, sau 8 năm trở lại xâm lược Đông Dương, dù đã huy động tiềm
lực kinh tế, quân sự đến mức cao nhưng thực dân Pháp vẫn không đạt được
mục đích cơ bản đề ra là tiêu diệt chính phủ cách mạng và lực lượng
kháng chiến, thiết lập lại nền cai trị trên toàn Đông Dương như trước
năm 1945. Trái lại, chúng phải chịu những tổn thất nặng nề: bị thiệt hại
390.000 quân, vùng chiếm đóng thu hẹp, mâu thuẫn giữa tập trung và phân
tán lực lượng ngày càng sâu sắc...
Mặt
khác, những khó khăn về kinh tế, tài chính và phong trào đấu tranh của
các tầng lớp nhân dân trong nước ngày càng dâng cao đẩy chính phủ Pháp
rơi vào cuộc khủng hoảng chính trị mới. Lợi dụng tình thế này, đế quốc
Mỹ tăng cường can thiệp vào Đông Dương, tích cực viện trợ cho Pháp kéo
dài và mở rộng cuộc chiến nhằm phục vụ cho chiến lược toàn cầu phản cách
mạng.
Tháng
5/1953, chính phủ Pháp cử tướng Nava - người được đánh giá là “một nhà
chiến lược văn võ song toàn” sang làm tổng chỉ huy quân viễn chinh ở
Đông Dương với hy vọng sớm giành thắng lợi quân sự quyết định, tìm “lối
thoát danh dự” dứt điểm cuộc chiến tranh. Sau một thời gian tìm hiểu
tình hình chiến trường, tháng 7/1953, tướng Nava đề ra kế hoạch quân sự
mới ở Đông Dương (còn gọi Kế hoạch Nava), gồm hai bước.
Bước
1 (Thu Đông năm 1953 và Xuân năm 1954): giữ thế phòng ngự chiến lược ở
chiến trường miền Bắc, tránh giao chiến với chủ lực đối phương; tiến
công chiến lược ở chiến trường phía Nam, đánh chiếm các căn cứ kháng
chiến, trước hết là vùng tự do Liên khu 5 và Khu 9 của cách mạng; đồng
thời ra sức bắt lính mở rộng ngụy quân, tập trung xây dựng khối chủ lực
cơ động mạnh.
Bước
2 (từ Thu Đông năm 1954): dồn lực lượng ra chiến trường miền Bắc, thực
hiện các đòn tiến công chiến lược, tiêu diệt quân chủ lực đối phương để
giành thắng lợi quyết định, buộc chính phủ kháng chiến phải đầu hàng,
hoặc chấp nhận đàm phán kết thúc chiến tranh theo những điều kiện do
Pháp đặt ra.
 |
| Phút
nghỉ ngơi của các chiến sỹ giữa hai trận đánh. Tuy gian khổ, khốc liệt
nhưng các cán bộ, chiến sỹ của ta vẫn luôn lạc quan, yêu đời. Những lá
thư nhà đọc cho đồng đội nghe trong chiến hào là nguồn cổ vũ tinh thần
mãnh liệt, tiếp thêm sức mạnh cho các chiến sỹ vững tâm vượt qua khó
khăn để chiến đấu. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN) |
Cả thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đều đánh giá kế hoạch Nava là “hoàn hảo, phù hợp”, sẽ mang đến thắng lợi trong vòng 18 tháng!
Thực
hiện kế hoạch quân sự mới đề ra, thực dân Pháp mở nhiều cuộc hành quân
đánh phá, càn quét bình định, ra sức bắt lính; đồng thời đưa thêm nhiều
đơn vị quân viễn chinh vào Đông Dương. Chỉ sau một thời gian ngắn, địch
đã củng cố, xây dựng được 84 tiểu đoàn cơ động chiến lược, trong đó tập
trung 44 tiểu đoàn ở đồng bằng Bắc Bộ.
 |
| Đại
tướng Võ Nguyên Giáp trao lá cờ “Quyết chiến-Quyết thắng” của Chủ tịch
Hồ Chí Minh tặng các đơn vị lập công. Điện Biên Phủ là một trong những
trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử Việt Nam, khẳng định sự trưởng
thành vượt bậc của Quân đội Nhân dân Việt Nam. (Ảnh: Tư liệu TTXVN) |
Về
phía ta, cuối tháng 9/1953, Bộ Chính trị họp bàn, đề ra chủ trương
chiến lược cho hoạt động quân sự Đông Xuân 1953 - 1954: Sử dụng một bộ
phận chủ lực mở những cuộc tiến công vào những hướng địch tương đối yếu,
có nhiều sơ hở, đồng thời tranh thủ cơ hội tiêu diệt địch ở những hướng
địch có thể đánh sâu vào vùng tự do của ta; trong lúc đó, đẩy mạnh
chiến tranh du kích ở khắp các chiến trường sau lưng địch, tích cực tiến
hành mọi sự chuẩn bị cần thiết trong nhân dân và bộ đội địa phương, dân
quân du kích các vùng tự do để cho chủ lực rảnh tay làm nhiệm vụ.
Phương châm, nguyên tắc chỉ đạo tác chiến chiến lược là: tích cực, chủ
động, cơ động và linh hoạt; đánh ăn chắc, tiến ăn chắc, chắc thắng thì
đánh cho kì thắng, không chắc thắng thì kiên quyết không đánh.
 |
| Bộ đội ta bắt sống tù binh Pháp khi tấn công vào cứ điểm địch ở Điện Biên Phủ. (Ảnh: Tư liệu/TTXVN) |
Chấp
hành chủ trương chiến lược đã đề ra, quân dân Việt Nam phối hợp chặt
chẽ cùng với quân dân hai nước bạn Lào và Campuchia mở các cuộc tiến
công trên khắp chiến trường Đông Dương buộc Pháp phải phân tán lực lượng
đối phó. Khối chủ lực cơ động của địch từ chỗ tập trung chủ yếu ở Đồng
bằng Bắc Bộ, chỉ sau một thời gian ngắn, chính thức “bị xé nát” thành 5
mảnh, đứng chôn chân trên 5 khu vực (Đồng bằng Bắc Bộ, Tây Bắc, Trung
Lào, Tây Nguyên, Thượng Lào) mà hầu như không thể hỗ trợ được cho nhau.
Phối
hợp với đòn tiến công của bộ đội chủ lực, ở chiến trường sau lực địch,
ta đẩy mạnh chiến tranh du kích nhằm bảo vệ căn cứ kháng chiến, chia cắt
giao thông, tiến công diệt thêm đồn bốt, căn cứ hậu cần, uy hiếp hệ
thống phòng tuyến bên ngoài của địch... Sự phối hợp chiến đấu nhịp
nhàng, rộng khắp đã đẩy quân Pháp lún sâu vào thế bị động. Kế hoạch Nava
bước đầu bị phá sản.
 |
| Tù
binh Pháp ở Điện Biên Phủ kéo cờ trắng ra hàng. Kết thúc chiến dịch Điện
Biên Phủ, quân và dân ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 16.200 quân địch,
thu toàn bộ vũ khí, trang bị quân sự, bắn rơi nhiều máy bay; xóa sổ hoàn
toàn tập đoàn cứ điểm quân sự mạnh nhất Đông Dương của quân đội Pháp.
(Ảnh: Tư liệu/TTXVN). |
Tại
mặt trận Tây Bắc, từ tháng 11/1953, trước sự tiến công của quân ta, bộ
chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương quyết định điều quân xây dựng Điện Biên
Phủ thành tập đoàn cứ điểm mạnh. Trong toan tính của tướng Nava, Điện
Biên Phủ giữ vị trí chiến lược quan trọng nhằm bảo vệ Tây Bắc, Thượng
Lào. Mặt khác, nơi đây là thung lũng phì nhiêu (dài 18 km, rộng 6 – 8
km), giàu có nhất vùng Tây Bắc. Không gian và địa thế đó cho phép xây
dựng một tập đoàn cứ điểm mạnh nhằm thu hút và đánh bại chủ lực đối
phương.
Đến
đầu tháng 3/1954, quân địch tập trung tại Điện Biên Phủ lên đến 16.200
tên, gồm những đơn vị bộ binh, pháo binh, công binh, xe tăng, không quân
thuộc loại tinh nhuệ nhất ở Đông Dương; được bố trí thành hệ thống
phòng ngự mạnh, gồm 49 cứ điểm, chia thành 3 phân khu. Cả Pháp và Mỹ đều
đánh giá Điện Biên Phủ là “pháo đài không thể công phá”, công khai
thách thức đối phương tiến công.
Về
phía ta, sau khi phân tích kỹ tình hình mọi mặt, nhất là so sánh tương
quan lực lượng địch - ta, Trung ương Đảng và Bộ chỉ huy tối cao đã quyết
tâm mở chiến dịch tiến công Điện Biên Phủ - đòn quyết chiến chiến lược
nhằm kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đại tướng
Võ Nguyên Giáp được giao trọng trách Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy chiến
dịch.
Với
khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng!”, cả nước dồn
sức cho chiến trường Điện Biên Phủ. Lực lượng tham gia chiến đấu lên đến
55.000 quân, gồm 3 đại đoàn bộ binh (308, 312, 316), Trung đoàn bộ binh
57 (Đại đoàn 304), Đại đoàn công binh - pháo binh 351. Trên 260.000 dân
công và 27.400 tấn gạo được huy động để cung cấp cho chiến dịch. Hàng
vạn thanh niên xung phong phối hợp cùng bộ đội công binh ngày đêm mở
đường ra mặt trận dưới bom đạn địch, nên sau một thời gian ngắn, hàng
ngàn km đường được xây dựng, sửa chữa. Công tác chuẩn bị các mặt trên
vượt ra ngoài mọi dự đoán, tạo bất ngờ lớn đối với cả Pháp và Mỹ.
Ngày
13/3/1954, quân ta nổ súng tiến công, mở màn chiến dịch. Sau 56 ngày
đêm chiến đấu dũng mãnh, vượt qua muôn vàn gian khổ, “gan không núng,
chí không mòn”, chiều ngày 7/5/1954, bộ đội ta đã tiêu diệt hoàn toàn
tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, bắt sống tướng chỉ huy De Castries, kết
thúc thắng lợi trận quyết chiến chiến lược.
Ý nghĩa lịch sử trọng đại
Chiến
thắng Điện Biên Phủ 1954 của quân dân Việt Nam đã đập tan những cố gắng
quân sự cao nhất của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, buộc chính phủ Pháp
phải ký kết Hiệp định Geneva (7/1954) công nhận độc lập, chủ quyền,
thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ ba nước Đông Dương, kết thúc vẻ vang
cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ kéo dài 9 năm (1945 - 1954). Đồng
thời, chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp kéo dài hàng thế kỷ, mở
ra bước phát triển mới cho cách mạng Việt Nam, Lào, Campuchia.
 |
| Lá cờ “Quyết chiến Quyết thắng” và chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh
tại lễ diễu hành mừng chiến thắng tại Điện Biên Phủ giữa tiếng reo hò
vang dậy của bộ đội, dân công và nhân dân các dân tộc Điện Biên. (Ảnh:
Tư liệu TTXVN) |
Chiến
thắng Điện Biên Phủ 1954 đập tan một mắt xích quan trọng trong hệ thống
thuộc địa của chủ nghĩa thực dân cũ, mở đầu cho sự sụp đổ trên phạm vi
toàn thế giới; giáng đòn nặng nề đầu tiên vào dã tâm xâm lược của chủ
nghĩa đế quốc Mỹ. Nhà sử học Pháp Jules Roy sau này đã thừa nhận, xét
trên phạm vi thế giới “Điện Biên Phủ thất thủ gây nỗi kinh hoàng khủng
khiếp. Đó là một trong những thảm bại lớn nhất của phương Tây, báo trước
sự sụp đổ của các đế quốc thuộc địa và sự cáo chung của một nền cộng
hòa. Tiếng sấm Điện Biên Phủ vẫn hãy còn vang vọng”.
Cũng
từ đây, “tiếng sấm Điện Biên Phủ” có sức cổ vũ mạnh mẽ các dân tộc
thuộc địa đấu tranh giành độc lập, nhất là các nước châu Phi, châu Mỹ
la-tinh; đồng thời góp phần làm sáng ngời chân lý của chủ nghĩa Mác -
Lênin thời đại ngày nay: Một dân tộc bị áp bức, nhưng nếu quyết tâm
chiến đấu vì độc lập tự do, có đường lối chính trị, đường lối quân sự
đúng đắn, biết phát huy sức mạnh chiến tranh nhân dân, sức mạnh thời đại
thì hoàn toàn có khả năng đánh bại những đội quân xâm lược hung bạo.
Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Điện Biên Phủ như là một
cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử. Nó ghi rõ nơi chủ nghĩa thực dân
lăn xuống dốc và tan rã, đồng thời phong trào giải phóng dân tộc khắp
thế giới đang lên cao đến thắng lợi hoàn toàn”.
Chiến
thắng Điện Biên Phủ bắt nguồn từ nhiều nhân tố: đó là đường lối chính
trị, đường lối quân sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng; từ tinh thần yêu
nước nồng nàn và nghệ thuật quân sự truyền thống Việt Nam được kế thừa
và phát triển lên tầm cao mới trong thời đại Hồ Chí Minh; bắt nguồn từ
tình đoàn kết và liên minh chiến đấu giữa ba dân tộc trên bán đảo Đông
Dương, sự giúp đỡ quan trọng của Trung Quốc, Liên Xô và sự đồng tình,
ủng hộ từ bè bạn quốc tế, trong đó có nhân dân tiến bộ Pháp. Nhưng nguồn
gốc sâu xa nhất chính là từ tình yêu quê hương đất nước, là khát vọng
độc lập, tự do đến cháy bỏng của mỗi con dân đất Việt.
Chiến
thắng Điện Biên Phủ 1954 để lại cho cách mạng Việt Nam những bài học -
kinh nghiệm rất quý báu: giữ vững và tăng cường phát huy vai trò lãnh
đạo của Đảng, trên cơ sở chủ trương, đường lối đúng đắn, kịp thời nắm
bắt thời cơ, chớp thời cơ, chỉ đạo chiến lược nhạy bén, sắc sảo nhằm tập
trung sức mạnh cao độ cả nước để giành thắng lợi quyết định; thực hiện
tốt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, biết dựa vào dân, phát huy quyền làm chủ
của nhân dân, tôn trọng và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân; phát
huy thế trận chiến tranh nhân dân vững chắc, không ngừng xây dựng lực
lượng vũ trang cách mạng lớn mạnh, đặc biệt là bộ đội chủ lực để sẵn
sàng thực hiện tốt nhiệm vụ, nhất là những nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách,
những trận quyết chiến; không ngừng chăm lo, củng cố khối đại đoàn kết
toàn dân, lấy liên minh giai cấp công - nông làm nền tảng, tích cực đấu
tranh vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, vì độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội; xây dựng tinh thần đoàn kết quốc tế trong
sáng trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh
thổ và đều hướng đến mục tiêu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ,
tiến bộ xã hội. Những bài học - kinh nghiệm ấy vẫn vẹn nguyên giá trị,
tiếp tục được Đảng, Nhà nước ta chắt lọc, vận dụng sáng tạo trong công
cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Đại tá Trần Tiến Hoạt (Nguyên Phó Chủ nhiệm Bộ môn Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam).